Bình giảng bài thơ “vội vàng” của Xuân Diệu

Văn mẫu lớp 11, Văn mẫu THPT
Loading...

Đề bài: Anh chị hãy Bình giảng bài thơ vội vàng của Xuân Diệu

Mở bài Bình giảng bài thơ “vội vàng” của Xuân Diệu

Vội vàng chính là bản tuyên ngôn bằng thơ về lẽ sống và quan điểm sống của nhà thơ, thể hiện một triết lí nhân sinh mới mẻ, mạnh bạo mà chúng ta chưa hề thấy trong văn học trung đại mà cũng thật hiếm thấy trong văn chương hiện đại, tiêu biểu cho sự cách tân táo bạo của nhà thơ Xuân Diệu. Hoài Thanh từng nhận xét rằng: “thơ Xuân Diệu có một nguồn sống dạt dào chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này, nhà thơ say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, lúc nào cũng vội vàng cuống quýt như muốn tận hưởng cuộc sống ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn người nồng nàn tha thiết”.

Thân bài Bình giảng bài thơ “vội vàng” của Xuân Diệu

Nhà thơ yêu cuộc sống, mê say thiết tha, con người yêu cuộc sống quyến rũ:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.”

4 câu thơ ở đoạn 1 thể hiện sự mạnh bạo của con người, muốn chống lại mọi quy luật của đất trời. Thi sĩ xưng “tôi” để bộc bạnh với mọi người. Khổ có 4 câu, mỗi câu 5 chữ tạo nên tiết tấu gấp, sự hối hả, cấu trúc thơ trùng lặp “tôi muốn” nhằm nhấn mạnh, khẳng định ước nguyện ngông cuồng và táo bạo, tôi muốn tắ nắng, để nắng không thể làm phai đẹp cuộc đời, muốn buộc gió, vì sợ gió sẽ mang hương thơm quyến rũ của cuộc đời đi mất. Chúng ta đều biết rằng nắng, gió là những hiện tượng của tự nhiên trong không gian và tồn tại không theo ý muốn chủ quan của con người và trong tự nhiên không có một sắc màu nào là vĩnh cửu, không có một hương vị nào là trường tồn, vậy mà “cái tôi trữ tình” ở đây lại muốn chống lại quy luật  của tự nhiên, tàn phá của thời gian để lưu giữ lại vẻ đẹp của cuộc đời. Khổ thơ chứa đựng một ước muốn ngông cuồng nhưng trong đó là một tình cảm rất chân thật, đáng quý, đó là niềm khát khao giữ lại được những hương sắc của cuộc đời, là tấm lòng yêu đời, yêu cuộc sống thiết tha của Xuân Diệu. Trong bài thơ ngắn nhưng chúng ta thấy hai câu thơ có hai từ  “tôi” ở đầu câu như sự hiển diện, tồn tại, khẳng định một con người sừng sững đầy bản lĩnh, nhà thơ lấy cái tôi cá nhân để tác động lên thời gian.

9 câu tiếp theo là cảnh sắc thiên nhiên, đất trời đẹp ngất ngây đang bày ra trước mắt như một bữa tiệc lớn dành cho các giác quan, tâm hồn, bài thơ đã phôi mở một bức tranh thiên nhiên đầy tươi đẹp, đầy sức sống vô cùng của cảnh vật và thiên nhiên:

“Của ong bướm này đây tuần trăng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si.

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;

Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,”

Bức tranh thiên nhiên được nhà thơ vừa gần gũi, thân quen vừa mượt mà mà đầy sức sống, những ong bướm, hoa lá của đời thương bỗng nhiên sống dậy như ngất ngây say mê dưới ngòi bút của Xuân Diệu. Bằng cặp mắt “xanh non, biếc rờn” nhà thơ đã phát hiện vẻ đẹp của thiên nhiên và thổi vào thiên nhiên một sức sống rạo rực đắm say. Một loạt các câu thơ nối tiếp dồn dập, điêp từ “này đây”, “của” gợi cho người đọc như khoe ra một thế giới những màu sắc sáng tươi, những âm thanh quyến rũ , tươi trẻ, ngọt ngào và đầy niềm vui. Đó là những sắc hương quyễn rũ cuộc đời mà tạo hóa đã ban tặng con người, nhà thơ đã lựa chọn những bức tranh để đưa vào đây hình ảnh tiêu biểu nhất của cuộc sống. Tất cả đang trong một thế giới ngất ngây “ong bướm”, “hoa lá”, lá của cành tơ, của chồi non lộc biếc, yến anh rộn ràng khúc tình si, ánh sáng tỏa ra từ đôi mắt to tròn. Những hình ảnh trên đã cho ta sức sống về mùa xuân, mùa của sinh sôi nảy nở, mùa của lứa đôi, nhà thơ đã vẽ lên một khu vườn tràn đầy sắc xuân. Tình xuân thấm đượm cả khổ thơ “tháng giêng ngon như một cặp môi gần” dùng hình ảnh so sánh, tác giả đã đưa người đọc tới một mùa xuân tuyệt đẹp, chỉ bằng một đoạn văn ngắn, nhà thơ đã mở ra trước mắt ta một thế giới xuân sắc và tình tứ, một thế giới phong phú và giàu có, nhờ cặp mắt hồn nhiên, yêu đời đến say đắm nhà thơ đa phát hiện ra được cái tình của mùa xuân.

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Vẻ đẹp ấy bị ngắt quãng bởi hai dấu chấm trong câu, giọng thơ đã chuyển đổi, bị chậm lại do có dấu chấm ở giữa dòng, dấu chấm ấy mang phong cách của thời hiện đại, nhà thơ đang say đắm, hy vọng bỗng trở nên u trầm.

“Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”

Người ta tiếc xuân khi xuân đã qua thì Xuân Diệu đang tiếc xuân khi xuân tưng bừng, dạt dào.

Nhà thơ cảm nhận được vẻ đẹp tuyệt vời của trần tục nhưng đồng thời ý thức rõ ràng về dòng chảy của thời gian, ý thức được cái hữu hạn, tuổi trẻ của con người :

“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Hai chữ “non” thật độc đáo, tác giả không dùng để chỉ một sự vật cụ thể mà nhà thơ nói tới mùa xuân, nói tới thời gian, Xuân Diệu hiểu rằng, thời gian một đi sẽ không bảo giờ trở lại, vẽ ra trước mắt ta những năm tháng còn chạy vùn vụt, nhà thơ cho rằng thời gian luôn vận động, mỗi khoảnh khắc đi qua là mất đi vĩnh viễn, nhà thơ nhận thức được sự thật phũ phàng: thời gian thì vô hạn, nhưng đời người lại hữu hạn.

“Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,”

Nhà thơ cảm nhận rõ trời đất là mãi mãi và bất diệt nhưng “tôi” thì hữu hạn, đoạn thơ có sự tranh luận, sự biển đổi của thời gian thật đáng sợ, thời gian trôi đi sẽ không bao giờ quay lại và mang theo của con người những gì quý giá nhất đó là tuổi trẻ , tình yêu, mùa xuân, cái đẹp, nhà thơ nhìn cảnh vật xung quanh bằng một nỗi buồn .

“Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt…”

Nhà thơ nhận thấy được sự chia phôi, những câu thơ này mang đạm dấu ấn thơ tượng trưng của Pháp, Xuân Diệu cảm nhận điều này qua mọi giác quan của cơ thể, không chỉ con người mà mọi thứ, sự vật khắp nơi đều kêu than về sự luân chuyển của thời gian.Tác giả càng yêu càng say mê bao nhiêu thì càng buồn, càng tiếc.

“Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Ta thấy ở đây những vồ vập chuệnh choáng, ham hố, ta muốn tận hưởng thật nhiều, thật đã đầy hương sắc của cuộc sống trần thế , những câu thơ nối tiếp như một cơn lũ, nối tiếp, dồn dập, nhịp thơ trôi chảy. Thi sĩ đã bắt đầu chuyển đổi từ cách xưng hô “tôi” sang cách xưng hô “ta”, nếu như tôi ở khổ đầu là bộc bạch với trần thế về niềm khao khát được sống, được cống hiến thì ở đây “chữ ta” là nhà thơ đã sẵn sàng đối diện với những sự thật phũ phàng, những người đã hóa cái “tôi” cá nhân vào cái “ta” cộng đồng. Trong con mắt yêu đời của tác giả cuộc sống hiện ra thật đẹp.

Kết luận Bình giảng bài thơ “vội vàng” của Xuân Diệu

“Vội vàng” là một thi phẩm vừa xuất sắc nội dung và đặc sắc về nghệ thuật bộc lộ được cái tôi tự nhiên trong thơ mới nói chung và thơ Xuân Diệu nói riêng. Bài thơ kết hợp tất cả những gì tinh túy nhất của thơ thi sĩ đó là yêu đời, “vội vàng” tiêu biểu cho cách tân sáng tạo, nhịp thơ dồn dập như nhịp thở, nhịp đập của trái tim đang rạo rực.

Loading...