Phân tích bài thơ “Thuật Hoài” của Phạm Ngũ Lão

Văn mẫu lớp 10, Văn mẫu THPT
Loading...

Đề bài: Phân tích bài thơ “Thuật Hoài” của Phạm Ngũ Lão để làm nổi bật cảm hứng yêu nước anh hùng của tráng sĩ sát thát.

Mở bài Phân tích bài thơ “Thuật Hoài” của Phạm Ngũ Lão

Là danh tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, trong lịch sử văn học Việt ông chỉ để lại duy nhất vẻn vẹn hai bài thơ chữ Hán nhưng tên tuổi của ông vẫn đứng ngang hàng với những tác giả danh giá của văn học thời Trần. Ông là Phạm Ngũ Lão tác giả của hai tác phẩm còn lại: “Tỏ lòng”, “Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương”. Phạm Ngũ Lão (1255-1320) quê ở làng Phủ Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thị), tỉnh Hưng Yên, ông thuộc vào tầng lớp bình dân. Không chỉ có tài về quân sự, mà ông còn có nhiều bài thơ nói về chí làm trai và lòng yêu nước nhưng hiện nay do bị thất lạc nên hiện chỉ còn hai tác phẩm bằng chữ Hán. Phạm Ngũ Lão được nhà sử học Ngô Sĩ Liên đánh giá rất cao về tài năng phi thường của ông: “Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch, Phạm Điện Súy (chỉ Phạm Ngũ Lão) thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, nào phải riêng chuyên về nghề võ. Thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, hễ tấn công là chiếm được, người xưa cũng không ai có thể vượt qua nổi các ông”. Ông được Hưng Đạo Đại Vương tin dùng, coi trọng và gải con gái là quận chúa Anh Nguyễn cho. Cuộc đời của ông gắn liền với công việc triều chính, điều binh đánh giặc, bảo vệ nước nhà nên văn chương của ông viết ra cũng chủ yếu nói về lòng yêu nước và chí làm trai. Tiêu biểu có tác phẩm “Thuật Hoài” (tỏ lòng hay kể nỗi lòng) làm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, bài thơ thể hiện vẻ đẹp của con người và vẻ đẹp của thời đại. Con người với sức mạnh lí tưởng cao cả, cái tâm sáng ngời nhân cách; thời đại với tinh thần quyết chiến quyết thắng của “Hào khí Đông A”- Hào khí thời Trần. Đây cũng là bài thơ mang cảm hứng nhân đạo, yêu nước là bài thơ thể hiện tinh thần yêu quê hương đất nước của tráng sĩ thời Trần.

Thân bài Phân tích bài thơ “Thuật Hoài” của Phạm Ngũ Lão

Mở đầu bài thơ ta thấy hình ảnh của người tráng sĩ cầm ngang ngọn giáo, đầy uy nghi, tráng lệ, hùng dũng, đứng trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ Tổ Quốc, không sợ hãi trước quân thù xâm lược. Hai câu thơ đầu nói lên vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kì vĩ:

“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

(Múa giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

Nhưng tiếc rằng bản dịch thơ chưa thể hiện được hết ý của bản phiên âm ở từ “hoành sóc” mà bản dịch thơ dịch thành “múa giáo”, phần dịch đã làm mất đi vẻ oai nghiêm, chắc chắn của hình ảnh mà thiên về nghệ thuật, hơi phô diễn động tác, còn từ “hoành sóc” là cầm ngang ngọn giáo nó làm cho hình ảnh chở nên mạnh mẽ, chắc chắn. Cả câu thơ nguyên tác: “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” hiện lên hình ảnh con người cầm ngang ngọn giáo trấn giữ đất nướt khỏi bị giặc ngoại xâm. Hình ảnh con người trong thơ của Phạm Ngũ Lão không được đặt ở nới chiến trường dữ dội mà lại được đặt trong một không gian rộng lớn, bao la của núi sông hùng vĩ. Lấy không gian bao la non sông ấy để đo cây trường giáo ấy trên tay người tráng sĩ, cái hay là ở đây đo tầm vóc của người  cầm giáo bằng kích thước của đất trời. Có núi sông làm bức nền, hình ảnh ấy lại càng lớn lao biết bao nhiêu. Người tráng sĩ ra chiến trường theo tiếng gọi của con tim yêu nước, họ sẵn sàng hi sinh tất cả hi sinh cả tuổi thanh xuân cầm ngọn giáo qua nhiều mùa thu để trấn giữ đất nước. Những con người ấy thật phi thường biết nhường nào, vẫn tư thế dáng đứng ấy, vẫn vững vàng như vậy, không hề chuyển lay đã chẵn mấy thu rồi. Trong “Chinh phụ ngâm” cũng xuất hiện hình ảnh người chinh phu “Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo” nhưng so với hình ảnh của người tráng sĩ thời Trần cầm giáo trấn giữ non sông thì người chinh phu không có tầm vóc vũ trụ, cái hào khí ôm trùm cả đất trời.

Bài viết liên quan:

>> Phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

>> Phân tích bài Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão

Nhưng thử hỏi nếu chỉ có duy nhất một người tráng sĩ đã mang được tầm lớn lao như vậy thì hình ảnh ba đội quân Sát Thát sẽ chứa đựng những sức mạnh vô địch như thế nào? Như Phạm Ngũ Lão đã miêu tả “tam quân tì hổ”- Ba quân dũng mãnh như hổ báo. Ở trong Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu cũng có viết:

“Thuyền bè muôn đội

Tinh kì phấp phới

Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói.”

Tinh thần tự cường cùng con tim yêu nước đã cho chúng ta thấy được: sức mạnh nhanh như báo và khỏe như hổ, không ngần ngại trước kẻ thù dù là kẻ thù có lớn đến bao nhiêu. Hình ảnh “tam quân” là hình ảnh nói về quân đội thời Trần nhưng nó cũng là tượng trưng về sức mạnh của cả dân tộc. Với thủ pháp nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hóa sức mạnh vật chất của ba quân vừa hướng tới sự khái quát hoa tinh thần của đội mang “Hào khí Đông A”. Khí thế mạnh mẽ của quân đội đến nỗi có thể nuốt trôi trâu, rực rỡ đến độ có thể lấn át được cả sao ngưu. Tác giả còn sử dụng biện pháp cường điệu hóa để làm cho sức mạnh của quân đội thời Trần đánh đâu thắng đó, thật oai vệ, dũng mãnh và phi thường,.. Chỉ trọn vẹn ở trong hai câu thơ ngắn ông đã khắc  họa thành công tư thế đứng và sức mạnh của quân đội thời Trần. Với tình yêu quê hương đất nước đã khiến cho những người tráng sĩ này có sức mạnh để bảo vệ non sông đất nước , không cho kẻ thù tiến tới xâm chiếm đất nước mình.

Tiếp theo là hai câu câu cuối tập trung thể hiện “nỗi lòng” của người tráng sĩ thời Trần hay cũng có thể coi đây là lời mà ông nói cho bản thân mình:

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

(Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

Đó thể hiện cái chí, cái tâm của người anh hùng. Chí ở đây là chí làm trai mang tư tưởng tích cực của Nho giáo, công là để lại sự nghiệp, còn lập danh là để lại tiếng thơm cho đời. Quan niệm về chí làm trai thì ta còn gặp ở thơ của Nguyễn Công Trứ trong bài “Chí làm trai” có viết:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

Hay trong thơ của Phan Bội Châu ta cũng gặp:

“Là trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển giờ”

Công danh được coi là món nợ đời phải chả của kẻ làm trai. Trả xong nợ công danh cũng như hoàn thành nhiệm  vụ, nghĩa vụ với đời,với dân với nước. Chí làm trai ở thời bấy giờ đã cổ vũ cho con người phải vương lên phấn đấu, những kẻ làm trai sẽ bỏ lối sông tầm thường, ích kỉ, nhỏ mọn, sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp lớn của đất nước.

Bên cạnh cái chí làm trai thì còn có cả cái tâm của người tráng sĩ. Tác gải thông qua nỗi “thẹn” để nói lên cái tâm của người anh hùng. Ở câu cuối này tác giả có nhắc đến Vũ Hầu- Gia Cát Lượng, tác giả “thẹn” là chưa đủ tài cao, mưu lược lớn như Gia Cát Lượng thời Hán để dẹp giặc, cứu nước. Xưa những người có nhân cách rất thường hay “thẹn”, mang trong mình nỗi thẹn khi chưa được tài giỏi. Trong bài thơ “ Tỏ lòng” thì Phạm Ngũ Lão còn thẹn là chưa đủ sức khôi phục giang sơn, đất nước. Tỏ lòng vừa là nỗi lòng riên của Phạm Ngũ Lão vừa là thể hiện xu thế tất yếu của thời đại: sức mạnh, tinh thần, quyết tâm bảo vệ giang sơn, đất nước thái bình.

Kết luận Phân tích bài thơ “Thuật Hoài” của Phạm Ngũ Lão

Bài thơ Đường luật ngắn gọn nhưng cho ta thấy được Phạm Ngũ Lão là một con người văn võ song toàn, ông viết bài thơ đạt trình độ xúc tích cao. Với bút pháp nghệ thuật hoành tráng, bài thơ đã thể hiện được hào khí Đông A- là một trong những thời đại hào hùng nhất lịch sử Việt Nam. Bài thơ cũng thể hiện được tình yêu nước của mỗi tráng sĩ Sát Thát sẵn sàng hi sinh bản thân mình để đổi lấy giang sơn, đất nước. Bài thơ còn giúp thế hệ trẻ hiện nay cần phải cố gắng hơn nữa để giúp sức mình, góp một phần công sức để đất nước ngày một văn minh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Loading...