Soạn bài: Kiều ở Lầu Ngưng Bích

Soạn văn, Soạn văn lớp 9
Loading...

Soạn bài: Kiều ở Lầu Ngưng Bích trích “truyện Kiều” của Nguyễn Du

Câu 1: Trong sáu câu thơ đầu, khung cảnh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian được nhìn qua con mắt của nhân vật, bộc lộ hoàn cảnh tâm trạng cô đơn, tội nghiệp của Thúy  Kiều:

– Trước khi được bán cho Tú bà thì Kiều đã được bà ta hứa hẹn rất nhiều nhưng thực chất là Kiều đang bị giam lỏng  “khóa xuân”.

– Một không gian mênh mông hiện ra trước mắt nàng, thiên nhiên dường như cũng trở nên u buồn với các hình ảnh “non xa, trăng gần, bốn bề bát ngát, xa trông, non xa, trăng gần” thật khiến người ta thấy ngột ngạt và buồn chán, không có chút sức sống nào, dường như chả ai muốn trò chuyện với nàng và ngay chính bản thân nàng cũng không muốn tiếp xúc với ai ngay lúc này.

– Hình ảnh “non xa” “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng” có thể là cảnh thực mà cũng có thể là hình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều.

– Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín. Tất cả như giam hãm con người, như khắc sâu thêm nỗi cô đơn khiến Kiều càng bẽ bàng, chán ngán, buồn tủi “bẽ bàng mây sớm đèn khuya” sớm và khuya, ngày và đêm, Kiều “thui thủi quê người một thân” và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót đau thương khiến tấm lòng Kiều như bị chia xẻ: “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Vì vậy, dù cảnh có đẹp đến mấy, tâm trạng Kiều cũng không thể vui được.

Câu 2: Nỗi nhớ thương của Kiều được diễn tả sâu sắc trong tám câu thơ tiếp theo:

Trước hết nàng nhớ tới chàng Kim Trọng.

-Đặt nỗi nhớ người yêu lên trước, Kiều đã không thể dấu được nỗi niềm của mình

-Kiều như lại kỷ niệm đêm trăng với lời thề nguyền của đôi lứa, đó là lúc mà hai người cùng nhau uống chén rượu thề nguyện sắc son, hứa hen một lòng cùng nhau đi đến trọn đời thế mà giờ đây hai người cách biệt ở hai nơi xa lạ.

Kiều nhớ tới cha mẹ của mình.

-nhớ đến cha mẹ nàng thấy “xót” khi nhớ đến quê nhà, cha mẹ vẫn ngồi trước cửa mong ngóng tin của con gái yêu. Tác giả sử dụng biện pháp đảo từ “xót” lên đầu câu để thấy được tình yêu thương của Kiều đối với cha mẹ.

– từ ngữ “quạt lồng ấp lạnh” để cho thấy nỗi day dứt khôn nguôi và lo lắng ai sẽ chăm sóc cha mẹ cho mình.

– nàng tưởng tượng nơi quê nhà đã đổi thay: “gốc từ đã vừa người ôm”, thời gian trô đi, cha mẹ ngày càng già yếu.

-cụm từ “cách mấy nắng mưa”là một ẩn dụ vừa gợi lên sự xa cách bao mùa mưa nắng, vừa gợi lên sự tàn phá của thời gian và thiên nhiên với con người và cảnh vật.

Câu 3: Ở tám câu thơ cuối đoạn trích, Nguyễn Du đã cho thấy một bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật, cảnh vật thể hiện tâm trạng:

Cảnh vật hiện lên trong con mắt của Kiều gợi lên một nỗi buồn da diết:

-cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại và điệp ngữ, tạo âm hưởng trầm buồn cho bài thơ

-“buồn trông” có nghĩa là buồn mà nhìn ra xa trong ngóng một cái gì đó mơ hồ mà có thể làm thay đổi hiện tại nhưng trông trong vô vọng.

-điệp ngữ “buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau đó , với các từ láy đã diễn tả nỗi buồn ngày càng tăng với nhiều sắc độ khác nhau. Nỗi buồn ấy được tái hiện qua 4 cảnh sau:

Cảnh 1: “Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”

Cảnh chiều hôm muôn thuở đã gợi nỗi buồn, tác giả đã sử dụng một số hình ảnh rất đắt thể hiện nội tâm nàng Kiều. một cánh buồn nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánh sáng lẻ loi cuối ngày của mặt trời sắp tắt, con thuyền vẫn lênh đênh trên mặt nước mỗi lúc mỗi xa, chưa có bờ bến để neo đậu. cũng như Kiều đang lênh đênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới được về sum họp, đoàn tụ với người thân yêu.

Cảnh 2: “Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu”

Hình ảnh ẩn dụ “hoa trôi” gợi lên nỗi lo da diết. nhìn những cánh hoa tàn lụi trôi man mác giữa dòng sông, Kiều lại buồn lo cho thân phận lênh đênh, chìm nổi sẽ không trôi dạt về đâu. Câu hỏi tu từ nhấn mạnh nỗi thấp thỏm như một tiếng than.

Cảnh 3: “Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Đây là cảnh gợi nên mùa xuân trong tiết thanh minh nhưng không còn là “xanh tận chân trời” mà thay vào đó là cỏ “rầu rầu”, “xanh xanh” sắc xanh này là xanh héo úa, mù mịt nhạt nhòa trải dài từ mặt đất đến chân trời. cảnh đấy gợi cho Kiều nỗi chán ngạn, vô vộng vì cuộc sống hiu quạnh và chuỗi ngày vô vị, tẻ nhạt, không biết sẽ kéo dài tới bao giờ.

Cảnh 4: “Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Dường như nỗi buồn càng lúc càng tăng, càng dồn dập. Thiên nhiên dữ dội, cái âm thanh “ầm ầm sóng dữ” chính là ẩn dụ cuộc đời phong ba bão táp đã và đang đổ ập xuống đời nàng và còn tiếp tục đè nặng lên kiếp người nhỏ bé ấy trong cái xã hội phong kiến cổ hủ. Tất cả những đợt sóng đang gầm rít trong lòng nàng. Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi khi rơi vào vực thẳm một cách bất lực.

Loading...